Các loại bệnh thường gặp của gà và cách chữa trị

Bệnh tụ huyết trùng ở gà

Đây là loại bệnh truyền nhiễm lây lan cấp tính hay mãn tính ở gia cầm do vi khuẩn thuộc họ Pasteurella gây ra. Các Vi khuẩn này chủ yếu tồn tại trong thiên nhiên nhất là các vùng ao tù, ngòi lạch nước đọng, có khi ngay cả trong cơ thể gia cầm khoẻ mạnh, đặc biệt là gia cầm nuôi thả như gà Ri . . . nếu mà sức đề kháng của gà bị giảm thì bệnh phát sinh. Gà bị bệnh do được nuôi chung đàn gà khoẻ có gà ốm tiếp xúc với, thức ăn, nước uống nhiễm mầm bệnh, vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể gà qua các vết xước ở da. Gà bị bệnh ở 3 mức độ (3 thể) :
– Thể cấp tính (ác tính) gà chết đột ngột không kịp thể hiên triệu chứng gì. Nhiều lúc gà đang ăn, đang ấp tự nhiên lăn ra chết, chỉ kịp giãy đập vài cái.
– Thể cấp tính: Gà biểu hiện ủ rũ, sốt, bỏ ăn, xù lông, chậm chạp mào tích xanh tím, miệng có dãi, nhớt đục, sùi bọt, khó thở, phân loãng màu nhạt, sau chuyển màu xanh sẫm có lẫn dịch nhầy. . . Gà chết sau 24-74 giờ do kiệt sức, ngạt thở, tỷ lệ chết cao lên đến 50%. ở gà có hiện tượng liệt duỗi thẳng chân.
– Thể mãn tính: Gà thường xuyên ỉa chảy kéo dài, gầy, có khi bị sưng khớp, què, đẻ kém, tích sưng to còn gọi là bệnh tích sưng… Có hiện lượng khó thở có tiếng ran ở khí quản. Bệnh tích ở thể cấp tính cho thấy có hiện tượng tắc rối loạn tuần hoàn ở gà bệnh, xung huyết nội tạng, xuất huyết từng đám ở cổ, đầu tim, thanh mạc phổi, mỡ bụng, niêm mạc ruột. Viêm màng bao tim. Gan sưng màu nâu vàng.
Phòng và chữa bệnh: Đối với căn bệnh tụ huyết trùng này, phòng là biện pháp tích cực, hiệu quả nhất. Cách phòng tốt nhất là không đưa gà, vịt, ngan lạ về nuôi hoặc giết mổ trong khu chuồng trại chăn nuôi. Nếu mua giống về nuôi phải chọn nơi an toàn dịch, đưu gà về nhốt riêng 7-10 ngày sau khoẻ mạnh mới thả chung vào đàn.
– Định kỳ cho gà phòng liều kháng sinh: Tetracilin 250 g/tấn thức ăn, hoặc Furazolidon 300 g/tấn thức ăn, liên tục cho ăn trong 5 ngày; Tăng cường chăm sóc và nuôi dưỡng chúng bằng thức ăn có chất lượng, gà nuôi thả tăng lượng thức ăn cho ăn thêm. Lúc có dịch ta nên chọn loại xử lý gà ốm, gà chết, tách đàn gà khoẻ nhốt lại không thả, tăng cường vệ sinh, chăm sóc đàn gà bằng thức ăn, và cả nước uống đầy đủ; Gà ốm có thể điều trị : S treptomycin 120- 150 mg/kg thể trọng kết hợp với liều Penicillin 150 mg/kg thể trọng hoặc Chlortetracyclin 40 mg/kg thể trọng gà.

Bệnh ngộ độc do mặn, nấm mốc aflatoxin:

Ngộ độc muối làm cho gà uống nước nhiều, tích nước dưới da, bại liệt, có thể sưng khớp. Ngộ độc hoá chất, cũng uống nước nhiều, có khi chưa kịp có triệu chứng đã chết, mổ ra có mùi hoá chất bị nhiễm trước hết là ở diều, mề, lâu hơn có thể thấm vào thịt. Cả đàn gà cùng ăn uống một loại thức ăn đều biểu hiện bệnh, con nào ăn khoẻ còn bị ngộ độc nhanh hơn.
Gà ăn phải những ngô mốc có đầu đen ở hạt, khô lạc mốc, thức ăn vón mốc. . . là bị ngộ độc mà nguy hại nhất là độc tố aflatoxin làm gà kém ăn, lông xù, giảm đẻ rõ rệt, trứng ấp nở kém. Ngộ độc nặng gây chết gà rất nhanh. Gan của gà sưng có chấm xuất huyết, màu xám hoặc vàng đất thó, thận gà ốm sưng và xuất huyết.
Phòng ngộ độc bằng cách theo dõi đàn gà thường ngày, thấy hiện tượng khác thường là phải xem xét ngay nước uống, thức ăn. Thức ăn mặn phải cho thêm cám, ngô, thức ăn mốc, có hoá chất phải loại bỏ. Nếu nước bẩn,  nước giếng khơi, nước ao v… là phải thay, phải lọc sát trùng. Tuyệt đối không để thức ăn, nước uống cạnh thuốc sâu, thuốc chuột v.v…

Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính

Là bệnh truyền nhiễm lây lan mãn tính thường gặp ở gà, gà tây và một số loại gia cầm khác. Thường gọi tắt là bệnh CRD, triệu chứng do đường hô hấp, nổi rõ ở túi khí, do virus Mycoplasma gallisepticum gây ra.
Gà 2- 10 tuần tuổi và gà sắp đẻ dễ nhiễm bệnh này hơn các lứa tuổi khác, thường hay phát bệnh vào vụ đông quân khi có mưa phùn,hay có gió mùa, độ ẩm không khí cao, có thể gọi là “bệnh thời tiết”.
Bệnh lan truyền dọc từ đời mẹ đến đời con qua trứng, từ gà bệnh sang gà khoẻ qua tiếp xúc, qua thức ăn nước uống, dụng cụ chăn nuôi, người chăm sóc . . . bị nhiễm. Gà ốm đã khỏi bệnh vẫn có thể còn thải vi khuẩn ra môi trường.
– Triệu chứng: những chú Gà con và gà dò bị bệnh hắt hơi, viêm kết mạc, chảy nước mắt, ít dịch thanh mạc ở lỗ mũi và mi mắt. Nhiều con hiện tượng mí mắt sưng tấy và dính vào nhau. Thở khò khè có tiếng ran khí quản dễ phát hiện vào buổi đêm yên tĩnh. Đêm đến, đi qua chuồng gà con, gà dò, gà đẻ bị bệnh nghe rõ tiếng ran khí quản…. Gà xù lông, thở khó bỏ ăn. Bệnh kéo dài có thể làm gà gầy nhanh và chết.
Gà đẻ bị bệnh thở khò khè do nhiều dịch nhầy đọng ở ống hô hấp trên. Gà hắt hơi, vảy mỏ, ho, chảy nước mắt, nước mũi. Bệnh tiến triển chậm, lúc đầu nước mũi loãng, sau đặc dần và đọng ở xoang mặt làm cho mặt gà sưng lên. Gà gầy nhanh rồi chết.
Tỷ lệ ốm của gà bị CRD có thể từ 20-50% phụ thuộc vào điều kiện vệ sinh phòng bệnh, nuôi dưỡng chăm sóc, tuổi gà. Tỷ lệ chết của gà con lên đến 30%, của gà đẻ thì chết không cao, những thiệt hại lớn là giảm đẻ, nhất là những đàn mới lên đẻ.
– Bệnh tích: Viêm toàn bộ đường hô hấp như: Khoang mũi, thanh khí quản và túi khí viêm. Gan bị phù bởi một lớp màng fibrin giả. Màng bao tim cũng viêm. . . thỉnh thoảng còn có từng mảng bã đậu rơi ra khoang bụng. ở gà con có thớ bã đậu ở khí quản, phế quản, túi khí, hốc mắt, hốc mũi; giác mạc bị đục mờ và có những ổ áp xe ở khớp hàm. ở gà đẻ viêm mãn tính buồng trứng, thoái hoá nang trứng trước khi chín. Cần chú ý bệnh CRD này có thể xếp theo 3 dạng sau:
– Bệnh viêm đường hô hấp, mãn tính chính. Nguyên nhân bị bệnh là do căng thẳng (stress) lượng vi khuẩn Mycoplasma tăng làm phát bệnh, thường có kiêm nhiễm cả một số vi khuẩn thứ cấp như E.con, Streptococcus…
Gà bị bệnh này có thể lâu chết, có lúc tự khỏi. Thiệt hại chính là gà gầy sút nhanh, chậm lớn, khó phục hồi khi khỏi bệnh, sản lượng trứng giảm 15-35% .
Phòng bệnh:  Cần tuân thủ thực hiện tốt quy trình vệ sinh thú y, chuồng thông thoáng, không ẩm thấp, mật độ nuôi vừa không quá chật, chăm sóc nuôi dưỡng tốt. Trang trại nuôi gà bố mẹ sinh sản cần kiểm tra bằng phản ứng huyết thanh học và kiểm tra vi khuẩn theo định kỳ để có biện pháp phòng trị kịp thời. Một số nước đã sử dụng vacxin phòng bệnh.
Để ngăn không cho bệnh truyền dọc từ gà mẹ sang gà con có thể dùng kháng sinh liều cao cho đàn gà mẹ trước khi thu trứng ấp, Cần nhúng trứng giống vào dung dịch kháng sinh, có thể tiêm kháng sinh vào lòng đỏ, buồng khí trước khi ấp. Thuốc phòng đặc hiệu là Tylosin cho gà dưới 1 tuần tuổi, tiêm dưới da khi gà mới nở, hoặc pha nước cho uống 3-5 ngày liên tục.
– Trị bệnh: Không có loại thuốc sẽ diệt hoàn toàn mầm bệnh, chỉ ngăn cản bệnh phát triển. Khi có dịch cần tăng cường vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng, bổ sung thuốc bổ vitamin A, D, B… Chữa bệnh bằng dùng một trong các loại kháng sinh sau:
+ Tylosin cần với liều lượng 0,5-1 g/1ít nước cho uống trong 3-5 ngày liền.
+ Tiêm Tylosin vào dưới da với liều 20-25 mg/kg thể trọng (tức là cho 1 con gà lkg, nếu bé hơn, to hơn phải tính cho khớp liều thuốc)..
+ Dinamutilin 45 với liều lượng cần 1 g/1 ,8 lít nước cho uống trong 5 ngày.
+ Tetracyclin với liều lượng cần 500-600 g/tấn thức ăn.
+ Furazolidon với liều lượng cần 350-400 g/tấn thức ăn trong môi trường có tạp nhiễm E~coli, trong 5-7 ngày.
+ Tiêm Streptomycin 50 mg/kg thể trọng trong 4 hoặc 5 ngày.
+ Chloramphenicol với liều 10 mg/kg thể trọng trong 3-4 ngày.
Thường dùng Tylosin + Streptomycin để tiêm chóng lành bệnh hơn. Nuôi gà Ri, Ri pha thả vườn thông thoáng chăm sóc tốt, lại có mật độ gà thưa và rất thưa trong cả vùng, cả thôn xóm nên có thể ít khi xảy ra bệnh này. Nhưng cần chú ý trời xấu, gió mùa, mưa rét là phải cho gà vào chuồng, cho ăn uống nuôi dưỡng tốt.
 BỆNH SƯNG MẶT, PHÙ ĐẦU
-Thường gặp phải khi thời tiết xấu, nếu kết hợp với các tạp trùng khác gây bệnh nặng hơn.
-Nguyên nhân: là do vi khuẩn Haemophilus galliarum.
-Triệu chứng: phù đầu, sưng mặt, cổ gà rút lại, chảy mũi, mắt bị viêm.
-Các kháng sinh cần dùng:
+ Ampicillin liều lượng 100mg/1Kg thể trọng.
+ Streptomycine  liều lượng 100 -> 200mg/1Kg thể trọng.
+ Septotryl 24% liều dùng 1cc/5Kg thể trọng.
Cần Chích ngày 1-2 lần trong 3-4 ngày, nên bổ sung thêm Dexamethasone 1mg/15Kg thể trọng.
-Phòng ngừa: Cần phải thường xuyên vệ sinh chuồng trại, sử dụng vaccin Haemovac (liều dùng: hỏi người bán)